Thư việnTrBTrB 13 · DN 13
TrB 13DN 1337 phút đọcCó MP3

Kinh Tevijjā (Tam minh) Đoạn 1. PTS cs 1

Tevijjasutta

20
Nghe bài kinhMP3 dựng sẵn · mọi thiết bị
PDFTự tạo
01 · Tóm lược

Kinh Tevijjā (Tam minh) Đoạn 1. PTS cs 1 — bài số 13 thuộc Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya). Toàn văn đã được materialize để đọc và tạo PDF trực tiếp trong thư viện.

02 · Gợi ý cách đọc

Đọc chậm toàn văn TrB 13, đánh dấu đoạn quan trọng và nghe MP3 khi cần.

03 · TOÀN VĂN BÀI KINH

Đọc ngay tại thư viện

Bản dịch: Thích Minh Châu
Sưu tầm đoạn kinhĐã lưu 0 đoạn

Trường Bộ Kinh

13. Kinh Tevijjā (Tam minh)

Đoạn 1. PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành ở Kosala (Câu-tát-la) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đi đến một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Manasākata . Tại đây, ở Manasākata , Thế Tôn trú tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravatī (A-trí-la-phạt-để), phía Bắc làng Manasākata .

Đoạn 2. PTS cs 2 Lúc bấy giờ, nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào ở tại Manasākata như Bà-la-môn Canki (Thường-già), Bà-la-môn Tārukkha (Ða-lê-xa) Bà-la-môn Pokkharasāti (Phí-già-la-bà-la), Bà-la-môn Jānussoni (Sanh Lậu), Bà-la-môn Todeyya (Ðạo-đề-da) và nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào khác.

Đoạn 3. PTS cs 3 Lúc bấy giờ, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa Vāsaṭṭha (Bà-tất-sá) và Bharadvāja (Bạt-la-đà-phạn-xà) trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng, vừa đi vừa suy nghĩ tư duy.

Đoạn 4. PTS cs 4 Thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha nói

Đoạn 5. —Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy;

Đoạn 6. PTS cs 5 Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói

Đoạn 7. —Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy.

Đoạn 8. PTS cs 6 Thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja và thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja , cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha .

Đoạn 9. PTS cs 7 Khi ấy thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha nói với thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja

Đoạn 10. —Này Bharadvāja , Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay trú ở Manasākata , tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravatī , phía Bắc làng Manasākata . Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama : “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Bharadvāja , hãy đến Sa-môn Gotama và hỏi Sa-môn Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

- Tôn giả, xin vâng!

Đoạn 11. Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja trả lời với thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha .

Đoạn 12. PTS cs 8 Lúc bấy giờ hai thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha và Bharadvāja đến Thế Tôn, khi đã đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, khi ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn

Đoạn 13. —Tôn giả Gotama , một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa hai chúng tôi trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng vừa đi vừa suy nghĩ, tư duy. Tôi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy”. Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy”. Tôn giả Gotama , đó là sự tranh luận, sự luận chấp, đó là sự bất đồng ý kiến.

Đoạn 14. PTS cs 9 Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy”. Còn thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy”. Này Vāsaṭṭha , ở nơi đây tranh biện về vấn đề gì, luận chấp về vấn đề gì và bất đồng ý kiến về vấn đề gì?

Đoạn 15. PTS cs 10 - Tôn giả Gotama , về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Tôn giả Gotama , nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác như các vị Bà-la-môn Addhàriyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, và các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandavà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà—tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Tôn giả Gotama , như gần làng hay gần trị trấn có nhiều con đường sai khác, nhưng tất cả con đường này đều dẫn đến làng. Cũng vậy, Tôn giả Gotama , nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác—như các Bà-la-môn Addhariyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandàvà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà. Tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo.

Đoạn 16. - Này Vāsaṭṭha , có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến?”

Đoạn 17. - Tôn giả Gotama , vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

Đoạn 18. - Này Vāsaṭṭha , có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

Đoạn 19. - Tôn giả Gotama , vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.

Đoạn 20. - Này Vāsaṭṭha , có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.

Đoạn 21. - Tôn giả Gotama , vâng, tôi nói: “Chúng dẫn dến”.

Đoạn 22. PTS cs 12 - Thế nào Vāsaṭṭha ? Có Bà-la-môn nào trong những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà tận mặt đã thấy Phạm thiên?

Đoạn 23. - Tôn giả Gotama , không có vị nào.

Đoạn 24. - Thế nào Vāsaṭṭha ? Có tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên?

Đoạn 25. - Tôn giả Gotama , không có vị nào.

Đoạn 26. - Thế nào Vāsaṭṭha ? Có Bà-la-môn nào cho đến bảy đời tôn sư và đại tôn sư của những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt nhìn thấy Phạm thiên?

Đoạn 27. - Tôn giả Gotama , không có vị nào.

Đoạn 28. PTS cs 13 - Thế nào, này Vāsaṭṭha . Những vị tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và ngâm giảng như các vị Aṭṭhaka (A-sá-ca) Vāmaka (Bà-ma), Vāmadeva (Bà-ma-đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-sá), Bharadvāja (Bạt-la-đà-phan-xà), Vāsaṭṭha (Bà-tất-sá), Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cữu), những vị này có nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy chỗ ở Phạm thiên, chỗ đến Phạm thiên, chỗ đi Phạm thiên?”

Đoạn 29. - Tôn giả Gotama , không có vị nào.

Đoạn 30. PTS cs 14 - Này Vāsaṭṭha , như vậy Ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên—không có một tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại tôn sư nào của ác Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên—không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Aṭṭhaka , Vāmaka , Vāmadeva , Vessamitta , Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja , Vāsaṭṭha , Kassapa , Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”.

Đoạn 31. Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

Đoạn 32. - Tôn giả Gotama , sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

Đoạn 33. PTS cs 15 - Này Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không thể có sự kiện ấy. Này Vāsaṭṭha , ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Như vậy, này Vāsaṭṭha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, người đầu không thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy, giống như lời nói mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như vậy là lời nói đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng.

Đoạn 34. PTS cs 16 - Này Vāsaṭṭha , nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác—có thể thấy mặt trăng, mặt trời không, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn?

Đoạn 35. - Thưa vâng, Tôn giả Gotama , các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác có thể thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn.

Đoạn 36. PTS cs 17 - Này Vāsaṭṭha , nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà—như phần đông nhiều người khác thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng mặt trời mọc và lặn, những vị này có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời không? Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo?

Đoạn 37. - Tôn giả Gotama , không thể được!

Đoạn 38. PTS cs 18 - Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác, thấy mặt trăng, mặt trời trong khi các vị này cầu khẩn tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn, những vị này không có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cọng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo”. Ngươi cũng nói các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói trong những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy—như các vị Aṭṭhaka , Vāmaka , Vāmadeva , Vessamitta , Yamataggi, Aṅgīrasa , Bharadvāja , Vāsaṭṭha , Kassapa , Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha , nhà Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?”

Đoạn 39. - Tôn giả Gotama , sự kiện là như vậy, thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

Đoạn 40. - Lành thay, này Vāsaṭṭha ! Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

Đoạn 41. PTS cs 19 Này Vāsaṭṭha , như có người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp mà Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẩm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, ấp nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và đã ái luyến một người Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?

Đoạn 42. - Vâng phải, Tôn giả Gotama . Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh xác, hợp lý.

Đoạn 43. PTS cs 20 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha , Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia các thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, cũng trì tụng và giảng dạy như các vị Vāmaka , Vāmadeva , Vessamitta , Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja , Vāsaṭṭha , Kassapa , Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

Đoạn 44. - Tôn giả Gotama , sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.

Đoạn 45. - Lành thay, Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không có sự kiện ấy.

Đoạn 46. PTS cs 21 Này Vāsaṭṭha , như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?”. Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?”. Hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vāsaṭṭha , ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói người kia không chánh xác, hợp lý?

Đoạn 47. - Vâng phải, bạch Thế Tôn. Sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.

Đoạn 48. PTS cs 22 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha . Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Người cũng nói trong những ẩn sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được bình tán và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy—như các vị Aṭṭhaka , Vāmaka , Vāmadeva , Vessamitta , Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja , Vāsaṭṭha , Kassapa , Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu?” Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha , ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?

Đoạn 49. - Tôn giả Gotama , sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chính xác hợp lý.

Đoạn 50. PTS cs 23 - Lành thay, Vāsaṭṭha . Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.

Đoạn 51. PTS cs 24 Này Vāsaṭṭha , như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người đứng bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia, hãy lại đây! Bờ bên kia, hãy lại đây”. Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravatī đến bờ bên này không?

Đoạn 52. - Tôn giả Gotama , không thể vậy.

Đoạn 53. PTS cs 25 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, những vị này đã nói: “Chúng tôi cầu khẩn Inda (Nhân-đà-la), chúng tôi cầu khẩn Soma (Tô-ma), chúng tôi cầu khẩn Vanena (Bà-lưu-va), chúng tôi cầu khẩn Īsāna (Y-sa-na), chúng tôi cầu khẩn Pajāpati (Sanh chủ), chúng tôi cầu khẩn Brahmà (Phạm thiên), chúng tôi cầu khẩn Mahiddhi (Ma-hi-đề), chúng tôi cầu khẩn Yāma (Dạ-ma). Này Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà ấy, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn—vì kêu gọi, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, những vị ấy sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không có sự kiện ấy.

Đoạn 54. PTS cs 26 - Này Vāsaṭṭha , như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tiến đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia, và muốn lội qua bờ bên kia. Người này đứng bên bờ này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia hãy lại đây! Bờ bên kia hãy lại đây!” Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravatī đến bờ bên này không?

Đoạn 55. - Tôn giả Gotama , không thể vậy.

Đoạn 56. PTS cs 27 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha , có năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh. Năm pháp này được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Những sắc pháp do mắt cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục, ái lạc; những tiếng do tai cảm nhận … những hương do mũi cảm nhận … những vị do lưỡi cảm nhận. Những xúc do thân cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục lạc. Này Vāsaṭṭha , năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Này Vāsaṭṭha , năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, đã tận hưởng năm pháp ấy.

Đoạn 57. PTS cs 28 - Này Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, tận hưởng chúng, bị trói buộc bởi sự trói buộc của dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên, thật không có sự kiện ấy.

Đoạn 58. PTS cs 29 - Này Vāsaṭṭha , như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người này ở bên bờ này trùm đầu và nằm ngủ. Này Vāsaṭṭha , nhà Ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể từ bên này của sông Aciravatī đến bờ bên kia không?

Đoạn 59. - Tôn giả Gotama , không có thể được.

Đoạn 60. PTS cs 30 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha , có năm triền cái được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Dục cái, sân cái, hôn trầm thụy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Này Vāsaṭṭha , năm triền cái này được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược. Này Vāsaṭṭha , các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái này, Này Vāsaṭṭha , thật vậy, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.

Đoạn 61. PTS cs 31 Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, tôn sư và đại tôn sư cùng nhau nói chuyện không? Phạm thiên có dục ái hay không dục ái?

Đoạn 62. - Tôn giả Gotama , không có dục ái.

Đoạn 63. - Có hận tâm hay không hận tâm?

Đoạn 64. - Tôn giả Gotama , không có hận tâm.

Đoạn 65. - Có sân tâm hay không sân tâm?

Đoạn 66. - Tôn giả Gotama , không có sân tâm.

Đoạn 67. - Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

Đoạn 68. - Tôn giả Gotama , không có nhiễm tâm.

Đoạn 69. - Có tự tại hay không có tự tại?

Đoạn 70. - Tôn giả Gotama , có tự tại.

Đoạn 71. PTS cs 32 - Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái hay không dục ái?

Đoạn 72. - Tôn giả Gotama , có dục ái.

Đoạn 73. - Có hận tâm hay không hận tâm?

Đoạn 74. - Tôn giả Gotama , có hận tâm.

Đoạn 75. - Có sân tâm hay không có sân tâm?

Đoạn 76. - Tôn giả Gotama , có sân tâm.

Đoạn 77. - Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

Đoạn 78. - Tôn giả Gotama , có nhiễm tâm.

Đoạn 79. - Có tự tại hay không có tự tại?

Đoạn 80. - Tôn giả Gotama , không có tự tại.

Đoạn 81. PTS cs 33 - Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái, Phạm thiên không có tham ái. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái với Phạm thiên không có tham ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

Đoạn 82. - Tôn giả Gotama , không thể có được.

Đoạn 83. PTS cs 34 - Lành thay, Vāsaṭṭha . Này Vāsaṭṭha , những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.

Đoạn 84. PTS cs 35 - Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm, Phạm thiên không có sân tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không có tự tại, Phạm thiên có tự tại.

Đoạn 85. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không có tự tại với Phạm thiên có tự tại có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

Đoạn 86. - Tôn giả Gotama , không thể có được.

Đoạn 87. PTS cs 36 - Lành thay, Vāsaṭṭha . Này Vāsaṭṭha , những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.

Đoạn 88. Này Vāsaṭṭha , ở đời các Bà-la-môn dầu có tinh thông ba tập Vedà, khi các vị này ngồi (với sự tự tín), thật sự đang chìm (trong bùn lầy), và khi đang chìm (trong bùn lầy) phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy đối với những Bà-la-môn tinh thông Vedà sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh.

Đoạn 89. PTS cs 37 Khi nghe vậy, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn

Đoạn 90. —Tôn giả Gotama , tôi có nghe nói Sa-môn Gotama biết con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

Đoạn 91. - Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Ở đây có người sinh trưởng ở Manasākata , nhưng chưa bao giờ rời khỏi chỗ này. Có người hỏi con đường đưa đến Manasākata . Này Vāsaṭṭha , đối với người ấy đã sinh trưởng ở Manasākata , chắc không có gì nghi ngờ hay khó khăn thì phải?

Đoạn 92. - Tôn giả Gotama , thật không có gì nghi ngờ hay khó khăn. Vì cớ sao? Tôn giả Gotama , người ấy sinh trưởng ở Manasākata đều biết rõ tất cả con đường đưa đến Manasākata .

Đoạn 93. PTS cs 38 - Này Vāsaṭṭha , đối với người ấy đã sinh trưởng Manasākata , còn có thể nghi ngờ và có khó khăn hỏi đến con đường đưa đến Manasākata nhưng đối với Như Lai thì không có nghi ngờ hay khó khăn gì khi hỏi đến Phạm thiên giới hay con đường đưa đến Phạm thiên giới! Này Vāsaṭṭha , Ta biết đến Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.

Đoạn 94. PTS cs 39 Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn

Đoạn 95. —Tôn giả Gotama , tôi đã nghe: “Sa-môn Gotama , giảng dạy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên”. Lành thay, nếu Sa-môn Gotama thuyết dạy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên! Mong Tôn giả Gotama tế độ chúng Bà-la-môn!

Đoạn 96. - Này Vāsaṭṭha , vậy hãy lóng nghe và khéo tác ý kỹ? Ta sẽ nói:

Đoạn 97. PTS cs 40 Này Vāsaṭṭha , nay ở đời đức Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Đoạn 98. PTS cs 41 Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sinh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tin ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Đoạn 99. PTS cs 42 Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha , đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp, thanh tịnh. Mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm, tỉnh giác và biết tri túc.

Đoạn 100. PTS cs 43 Này Vāsaṭṭha , thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc?

Đoạn 101. Ở đây, này Vāsaṭṭha , Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh … do lạc thọ, tâm được định tĩnh … chứng và trú thiền thứ nhất, … (như kinh Sa-môn quả , đoạn kinh số 43—75).

Đoạn 102. PTS cs 76 Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Đoạn 103. PTS cs 77 Này Vāsaṭṭha , như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vāsaṭṭha , đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, câu hữu với từ. Này Vāsaṭṭha , đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

Đoạn 104. PTS cs 78 Lại nữa, này Vāsaṭṭha , vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Đoạn 105. PTS cs 79 Này Vāsaṭṭha , như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vāsaṭṭha , đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, cùng khởi với xả. Này Vāsaṭṭha , đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

Đoạn 106. PTS cs 80 Này Vāsaṭṭha , Ngươi nghĩ thế nào? Tỷ-kheo an trú như vậy là có dục ái hay không dục ái?

Đoạn 107. - Tôn giả Gotama , không có dục ái.

Đoạn 108. - Có hận tâm hay không có hận tâm?

Đoạn 109. - Tôn giả Gotama , không có hận tâm.

Đoạn 110. - Có sân tâm hay không có sân tâm?

Đoạn 111. - Tôn giả Gotama , không có sân tâm.

Đoạn 112. - Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?

Đoạn 113. - Tôn giả Gotama , không có nhiễm tâm.

Đoạn 114. - Có tự tại hay không có tự tại?

Đoạn 115. - Tôn giả Gotama , có tự tại.

Đoạn 116. PTS cs 81 Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói Tỷ-kheo không có dục ái, Phạm thiên không có dục ái. Giữa Tỷ-kheo không có dục ái với Phạm thiên không có dục ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

Đoạn 117. - Tôn giả Gotama , có thể có được.

Đoạn 118. - Lành thay, Vāsaṭṭha . Này Vāsaṭṭha , Tỷ-kheo sau khi tâm thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Thật có thể có sự kiện ấy.

Đoạn 119. Này Vāsaṭṭha , Ngươi nói Tỷ-kheo không có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm … Tỷ-kheo không có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm. Tỷ-kheo có tự tại, Phạm Thiên có tự tại. Giữa Tỷ-kheo có tự tại với Phạm thiên có tự tại, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

Đoạn 120. - Tôn giả Gotama , có thể có được.

Đoạn 121. - Lành thay, Vāsaṭṭha . Này Vāsaṭṭha , Tỷ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Sự kiện ấy thật có thể có.

Đoạn 122. PTS cs 82 Khi nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha và Bharadvāja bạch Thế Tôn

Đoạn 123. —Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Tôn giả Gotama , như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày.

Đoạn 124. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama , quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử.

(Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987).

Hiệu đính: 16—06—2007

Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh .

NGUỒN

Bản dịch: Thích Minh Châu Đối chiếu SuttaCentral

Đọc tiếp trong cùng tạng