Sống Phóng Dật (Pamàdavihàri)
Pamādavihārīsutta
PDFTự tạo
Đọc ngay tại thư viện
Chương 35: Tương Ưng Sáu Xứ V: Phẩm Từ Bỏ 35.97. Sống Phóng Dật (Pamàdavihàri) Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Vi-n 4-6. Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật … nhĩ căn … tỷ căn …
Vi-n 7-8. … thiệt căn … thân căn …
Vi-n 9 Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.
Vi-n 11 Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?
Vi-n 12-14. Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật … nhĩ căn … tỷ căn …
Vi-n 15-16. … thiệt căn … thân căn …
Vi-n 17 Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Vi-n 18 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980 . Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.
Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh .
Bản dịch: Thích Minh Châu Đối chiếu SuttaCentral